Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Kỳ 2: thực tế xây dựng đối tác chiến lược của Việt Nam.

Việt Nam và Đức chính thức trở nên đối tác chiến lược từ ngày 11-10-2011

Kỳ 2: Thực tiễn xây dựng đối tác chiến lược của Việt Nam

Xây dựng và triển khai đối tác chiến lược: Các vấn đề cần lưu ý  Bên cạnh những mặt thuận lợi như đã nêu ở trên, vẫn còn có một số hạn chế trong việc khai triển quan hệ đối tác chiến lược.

Ba là, quý trọng chất lượng và xử lý thích đáng mối quan hệ giữa số lượng và hiệu quả. Vn Nói tóm lại, ngoài hai mối quan hệ đặc biệt với Lào, Cam-pu-chia và mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hiệp tác nhiều mặt với Cu-ba, đến nay Việt Nam có 12 đối tác chiến lược đầy đủ và 2 đối tác chiến lược trong lĩnh vực hẹp với Hà Lan, Đan Mạch và một số đối tác toàn diện với Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân.

Vì vậy, kết quả chưa được như mong muốn; sự tham dự của các bộ, ngành, các doanh nghiệp và địa phương chưa sâu rộng… Chúng ta mới chỉ tập hợp xây dựng đối tác chiến lược trong vài năm trở lại đây; quá trình triển khai chưa dài, chưa tạo ra những kết quả có tính đột phá.

Bên cạnh đó, cần quý trọng các đối tác lớn, thiết thân đối với vấn đề an ninh và phát triển của Việt Nam để đấu thúc đẩy. Một số nội dung cộng tác chưa được cụ thể hóa và chưa được triển khai hăng hái.

Bởi vậy, cần bền chí, bình tĩnh xử lý trên cơ sở nắm vững ích lợi nhà nước. TRẦN VIỆT THÁI  (Viện Nghiên cứu Chiến lược-Học viện Ngoại giao) (tiếp theo và hết) Kỳ 1: Xu hướng khách quan và thế tất. Để xây dựng đối tác chiến lược là một quá trình khó khăn, lâu dài và không phải lúc nào chúng ta muốn xúc tiến đối tác chiến lược, phía đối tác cũng đồng ý hoặc trái lại.

Thiên hướng chung trên thế giới là trọng chất lượng và hiệu quả đối tác hợp tác, nhưng trên thế giới không có bất cứ tiêu chí nào để định lượng bao lăm đối tác chiến lược là đủ đối với mỗi nhà nước.

Nhật Bản đã tương trợ Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, dự xây dựng nhà máy điện hạt nhân số 2… Quan hệ đối tác chiến lược với Hàn Quốc mở mang chóng vánh. Trong quá trình thiết lập và khai triển đối tác chiến lược, việc thông báo, tuyên truyền đến với người dân và các doanh nghiệp, địa phương trên cả nước chưa thực thụ được chú trọng.

Nhìn lại việc thiết lập và triển khai quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam trong thời gian qua, các đối tác chiến lược của Việt Nam, ở những chừng độ khác nhau, đều đã có những đóng góp hăng hái cho quan hệ song phương với đối tác cũng như tới "bàn cờ" đối ngoại chung của Việt Nam. Các đối tác chiến lược đã giúp (i) xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam và các đối tác, đặc biệt, phạm vi đối tác chiến lược mở ra nhiều kênh hội thoại quan yếu đặc biệt ở cấp chiến lược và thực hành chính sách vừa giúp thúc đẩy quan hệ vừa giúp xử lý các bất đồng/khác biệt; (ii) đưa quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi dần vào ổn định, ngày càng có chiều sâu và bền vững, đồng thời, chúng ta vẫn giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đa dạng hóa, đa phương hóa và ngày một chủ động trong hội nhập quốc tế; và (iii) góp phần gia tăng cả về số lượng và chất lượng các dự án, các cơ chế cộng tác quốc tế, từng bước góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu vực và thế giới.

Của Việt Nam trên nhiều mặt khác nhau. Đối với Việt Nam, ích quốc gia của chúng ta là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và vẹn toàn lãnh thổ, bảo vệ chế độ và giữ vững môi trường hòa bình ổn định, tranh thủ mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa giang san, song song cũng góp phần không ngừng nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hai là, xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa thiết lập và khai triển đối tác chiến lược. Nói tóm lại, quan hệ quốc tế đang đổi thay mau chóng theo hướng ngày một đa dạng và phức tạp. Chọn lọc đối tác, khoảng đồng thuận về nội hàm. Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy luôn luôn có khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực.

Trong quá trình triển khai chắc chắn sẽ không tránh khỏi khó khăn, thách thức. Trong khi vai trò và ý nghĩa của các liên anh quân sự ngày càng suy giảm, thì đối tác chiến lược đang nổi lên thành một trong những phương tiện đa dụng và sắc bén của chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế mà các nước như Việt Nam cần triệt để tận dụng.

Các đối tác chiến lược đã từng bước đáp ứng được các lợi. Trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày một tăng, việc Việt Nam cố kỉnh xây dựng và khai triển quan hệ đối tác chiến lược với một số đối tác là một chủ trương hợp với thiên hướng phát triển của thời đại.

Tỉ dụ, Hoa Kỳ thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Gru-di-a nhưng Thực tế Gru-di-a chỉ là một đối tác rất nhỏ của Hoa Kỳ.

Tỉ dụ như trong đối tác chiến lược với Nga, Việt Nam đã và đang khai triển nhiều dự án hiệp tác dài hạn, có tính chiến lược như hiệp tác về năng lượng, nhất là về dầu khí và năng lượng điện hạt nhân, hiệp tác trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng… Với Nhật, hai bên đã triển khai nhiều dự án hạ tầng cơ sở, liên lạc quan trọng.

Điều quan yếu là mỗi quốc gia phải biết tự lượng sức mình, trong quá trình xây dựng và khai triển phải gắn chặt với thực tiễn và lấy hiệu quả làm thước đo trong từng dự án hiệp tác cụ thể.

Chủ trương chung là không xây dựng quan hệ đối tác chiến lược bằng mọi giá. Ảnh: tuoitre. Trên thế giới, có rất nhiều trường hợp quan hệ đối tác chiến lược không đáp ứng được các tiêu chí, nội hàm cũng như kỳ vọng về quan hệ đối tác chiến lược.

Phải có điểm đồng cả về nhận thức, thời gian, mục tiêu… Thiết lập xong đối tác chiến lược mới chỉ là sự khởi đầu. Từ kinh nghiệm thực tại những năm vừa qua cho thấy, thận trọng là điều cần thiết và cần xử lý tốt các vấn đề sau: Một là, đối tác chiến lược phải phục vụ tốt các lợi ích quốc gia.

Đối với một số đối tác, nội dung hợp tác có mặt còn chưa cân xứng với tầm vóc quan hệ. Bước đầu, các đối tác chiến lược mà Việt Nam vừa thiết lập đã góp phần tạo ra những khuôn khổ quan hệ để hai bên cùng hướng vào xây dựng, phát triển. Thiết lập và khai triển đối tác chiến lược là hai quá trình hoàn toàn khác nhau, nhưng gắn bó mật thiết với nhau.

Hoặc như quan hệ đối tác chiến lược Hoa Kỳ-Ấn Độ, cộng tác giữa hai nước về chính trị, an ninh rất hạn chế, nhưng quan hệ kinh tế thương nghiệp lại rất lớn, kim ngạch thương nghiệp song phương Hoa Kỳ-Ấn Độ năm 2012 đạt hơn 60 tỷ USD….

Các đối tác chiến lược trên một số lĩnh vực như Hà Lan và Đan Mạch đã có nhiều dự án cụ thể giúp Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu, chống xâm nhập mặn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trồng rừng… Việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược còn có tác dụng đòn bẩy, giúp củng cố cục diện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tăng cường vị thế của Việt Nam, không gây ra những hiệu ứng phụ và không để giang sơn bị kẹt giữa các nước lớn.

Tuy đã tạo được sự đan xen về ích nhưng sự gắn kết giữa Việt Nam và các đối tác chưa thực thụ bền vững, cần phải được nối gia cố thêm. Đây là một quá trình lâu dài và rất cần thiết để làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị và hiệp tác của Việt Nam với các đối tác trên thế giới.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét