Trong các giai đoạn tranh cử, bầu cử hội đồng lập pháp, trong các vụ tranh tụng trước tòa, những quyết định hành chính và phương thức thực thi – trong tất tật các hoạt động này con người đều núm duy trì hoặc thiết lập quyền lực của mình lên người khác
Trong trường phái tư tưởng tự do này, Woodrow Wilson chính là chính trị gia có tài hùng biện và có sức ảnh hưởng nhất.
[12] Các nhà động vật học chỉ ra rằng thèm muốn áp đảo đồng loại được cho là có cả trong giới động vật, như là gà hoặc khỉ, những giống loài tạo ra sự phân cấp từng lớp dựa trên nền móng của ý chí và khả năng thống trị đồng loại. Norton and Company, Inc, 1938). Thành ra Cordell Hull, lúc đó là Ngoại trưởng, đã tuyên bố vào năm 1943 khi trở về từ Hội nghị Matxcơva, sự kiện đặt nền tảng cho Liên Hợp Quốc, rằng tổ chức quốc tế mới này đồng nghĩa với việc kết thúc chính trị cường quyền và mở ra một thời đại mới của hợp tác quốc tế.
” – Oeuvres complète (Paris, 1876), I, 248. Trong khi sự thật này nhìn chung được dấn trong thực tiễn ngoại giao quốc tế, thì nó lại thường bị chối bỏ trong các tuyên bố của giới học giả, các nhà tuyên truyền và kể cả các chính trị gia. Nếu sự thèm khát quyền lực chẳng thể bị xóa bỏ trên toàn thế giới, những người thoát khỏi chúng có thể sẽ trở thành nạn nhân đối với quyền lực của những người khác.
Sự suy giảm của quyền lực chính trị Khát vọng quyền lực trở thành một nguyên tố đặc trưng của chính trị quốc tế, vì trong mọi hình thái chính trị, chính trị quốc tế cấp thiết phải là thứ chính trị quyền lực.
Chính trị trong nước và quốc tế đều là những sự tranh giành quyền lực, chỉ khác nhau bởi những điều kiện mà tại đó sự giành giật diễn ra –bối cảnh trong nước hay không gian quốc tế. Khao khát được sống, duy trì nòi, và áp đảo người khác là lẽ thường đối với mọi con người[12]. 4, Part II (July 1947). Do đó, Jeremy Bentham tin rằng sự giành giật thực dân địa chính là duyên do cho mọi xung đột quốc tế.
Sức mạnh tương đối của các thèm khát đó phụ thuộc vào các điều kiện từng lớp – những thứ có thể hạp với một khát khao nào đó nhưng có thiên hướng kìm hãm những khao khát khác, hoặc là những thứ có thể ngăn cản sự bằng lòng của tầng lớp đối với những biểu đạt nhất mực của những khao khát này, trong khi lại khuyến khích những cái khác.
Chẳng thể phủ nhận rằng Trong suốt lịch sử, bất chấp những điều kiện về chính trị, kinh tế và tầng lớp, các nhà nước đã đụng đầu nhau trong cuộc chiến về quyền lực.
”[9] Dù chúng ta còn nhiều chuyện phải bàn đến sau này về những lý thuyết này cũng như những kì vọng mà chúng mang lại,[10] không quá để cho rằng sự tranh giành quyền lực rất phổ quát cả về không gian và thời gian và là một sự thật không thể chối cãi.
“Hãy phóng thích các thuộc địa của các ngài đi!” là lời khuyên của ông giành cho các chính phủ, và các cuộc chiến tranh cũng như xung đột quốc tế kiên cố sẽ biến mất. Nếu xét đến sự tồn tại rộng khắp của tranh giành quyền lực trong ắt các mối quan hệ xã hội và mọi các cấp độ tổ chức từng lớp, có kinh ngạc không khi chính trị quốc tế thế tất chính là chính trị quyền lực? Và chẳng phải đáng ngạc nhiên hơn nếu xem sự giành giật quyền lực chỉ là tình cờ và là một tính chất không vững bền của chính trị quốc tế trong khi nó lại là một nhân tố luôn và cấp thiết của tuốt tuột mọi nhánh hoạt động của chính trị trong nước? Kì cuối: nguồn cội làm suy giảm quyền lực Biên dịch: Võ Hoàng Phương Nhung ; hiệu chính: Lê Hồng Hiệp Bài được đăng lại từ Nghiencuuquocte.
Tuy nhiên, cảnh huống lại trở nên khác biệt khi chúng ta không phải đang coi xét các thể chế và dàn xếp từng lớp tạo ra bởi con người, mà coi xét những yếu tố tâm sinh lý mà chuẩn y đó dần dần từng lớp được tạo nên.
Thực chất của chính trị quốc tế là đồng nhất với bản chất chính trị trong nước. ”; “Thương mại tự do là luật quốc tế của Đấng Vạn Năng”, và thương mại tự do và hòa bình được xem như là “một và cùng một nguyên nhân”. [10] Xem phần VIII [11] Để biết những tranh luận bổ ích về vấn đề này, xem Malcom Sharp “Aggression: A study of Values and Law”, Ethics, Vol. Nên chi, nếu lấy tỉ dụ chỉ trong khía cạnh quyền lực, hồ hết mọi từng lớp lên án việc giết chóc như là một dụng cụ để đạt được quyền lực trong xã hội, nhưng mọi xã hội lại khuyến khích việc tiêu diệt kẻ thù trong cuộc chiến giành quyền lực được gọi là chiến tranh.
Cuộc ganh đua giữa các công ty cũng như tranh chấp giữa người lao động và nhà tuyển dụng thẳng tuột diễn ra không chỉ vì, và thỉnh thoảng không phải phải cốt tử bởi, các lợi ích kinh tế, mà còn vì sự ảnh hưởng đối với đối thủ và với các cá nhân chủ nghĩa và nhóm người khác, hay nói cách khác là quyền lực.
[4] Những người ủng hộ thương nghiệp tự do, như Cobden[5] và Proudhon[6], đã bị thuyết phục rằng việc dỡ bỏ các rào cản thương nghiệp là điều kiện độc nhất để xác lập sự hòa hợp vĩnh cửu giữa các nhà nước và thậm chí còn có thể dẫn đến sự biến mất hoàn toàn của chính trị quốc tế.
Từ khi các cuộc chiến tranh của Napoleon kết thúc, càng có nhiều nhóm ở thế giới phương Tây tin rằng cuộc chiến giành quyền lực trên trường quốc tế chỉ là một hiện tượng nhất thời, một sự cố lịch sử vốn chắc chắn sẽ biến mất một khi những điều kiện lịch sử đặc biệt tạo nên chúng bị xóa bỏ.
Quy trình mà các quyết định lập pháp, xét xử, điều hành và hành chính được đưa ra đều chịu tác động bởi các áp lực và phản sức ép của các “nhóm ích” – vốn nỗ lực bảo vệ và gia tăng vị thế quyền lực của họ.
Chung cuộc, vớ đời sống chính trị của một quốc gia, đặc biệt là đối với những nhà nước dân chủ, từ cấp độ địa phương cho tới cấp độ quốc gia, là một sự tranh giành quyền lực liên tiếp.
Trong suốt thế kỉ XIX, những người theo chủ nghĩa tự do ở mọi nơi san sẻ niềm tin rằng chính trị quyền lực và chiến tranh là tàn tích của một hệ thống cai trị lỗi thời và với thắng lợi của chế độ dân chủ và các chính phủ dựa trên hiến pháp đối với chính thể toàn trị và độc tài, sự hòa hợp quốc tế và nền hòa bình vĩnh cửu sẽ đánh bại chính trị quyền lực và chiến tranh.
Beales, A Short History of English Liberalism, p. Bởi thế, mối quan hệ này có thể dự đoán về xung đột trên trường quốc tế giữa chính sách của cường quốc đang áp đảo nguyên trạng và đế quốc đang trỗi dậy.
Mặc dù các nhà nhân chủng học chỉ ra rằng một số tộc người nguyên thủy nhất thiết dường như không bị thèm muốn quyền lực chi phối, chưa ai từng cho thấy cách thức tái tạo lại tình trạng tư duy cũng như các điều kiện sống của họ trên một khuôn khổ toàn cầu mà qua đó có thể xóa bỏ được sự tranh giành quyền lực khỏi đời sống quốc tế.
154. Họ cho rằng chủ nghĩa xã hội quốc tế sẽ xóa bỏ sự chiến đấu quyền lực trong chính trị quốc tế và đem lại hòa bình vĩnh viễn. Khi tồn tại một cách thức tổ chức các hoạt động kinh tế theo hình thức độc quyền thì sẽ không có sự cạnh tranh để giành quyền lực kinh tế; và trong các hệ thống kinh tế cạnh tranh, những biểu lộ nhất định của việc giành giật quyền lực kinh tế bị đặt ngoài vòng luật pháp, trong khi một số khác lại được khuyến khích.
Quan điểm này có thể bị phê phán trên cơ sở rằng những kết luận rút ra từ kí vãng là không thuyết phục và rằng việc đưa ra những kết luận như vậy luôn là chiêu thức của những kẻ chống lại sự tiến bộ và canh tân. W. Thí dụ, xem Warder Allee, Animal Life and Social Growth (Baltimore: The Williams and Wilkins Company, 1932) và The Social Life of Animals (New York: W.
Các nhóm từng lớp, nhóm thân hữu, các khoa giáp và các tổ chức kinh dinh đều là bối cảnh của sự đua tranh quyền lực liên tiếp giữa các nhóm vốn hoặc ráng duy trì quyền lực hiện có hoặc thèm khát cướp đoạt quyền lực lớn hơn.
Các nhà độc tài nhìn một cách không mấy cảm tình đối với sự thèm khát quyền lực chính trị của những công dân nước mình, nhưng các nền dân chủ lại coi việc tham dự hăng hái vào việc cạnh tranh quyền lực chính trị là một trách nhiệm công dân. Net --------------------------------- ghi chú: [4] Emancipate Your Colonies (London: Robert Heward,1830) [5]“thương nghiệp tự do! Đó là gì? vì sao lại phá dỡ nhừng hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia: những hàng rào đó, nép mình đằng sau chúng là những xúc cảm của sự tự hào, báo thù, long căm hận và cả sự ghen tỵ, những thứ mà sẽ thỉnh thoảng bùng nổ ra ngoài ranh giới của họ và nhần chìm vớ các nhà nước trong biển máu.
57, No. Tuy nhiên, không kể đến những điều kiện xã hội một mực, sự phản bác quan yếu nhất đối với quan điểm cho rằng cuộc chiến quyền lực trong chính trị quốc tế chỉ là một sự cố lịch sử lại xuất hành từ bản tính của nền chính trị trong nước.
Ở cấp độ gia đình, thực chất của mâu thuẫn điển hình giữa mẹ chồng/vợ và con dâu/rể nằm trong việc giành giật quyền lực, sự bảo vệ một vị trí quyền lực đã được xác lập đối với rứa hình thành một vị trí quyền lực mới.
Mặc dầu sự thực là một số thể chế và dàn xếp xã hội đã luôn tồn tại trong quá vãng, nhưng không nhất mực có tức thị chúng sẽ nối tồn tại trong ngày mai. “Ở một số cuộc bầu cử trong ngày mai”, Cobden nói, “chúng ta có thể dễ dàng thấy bài rà “không còn chính trị quốc tế” sẽ được vận dụng với những người đề nghị được trở nên đại diện cho các nhóm cử tri tự do”[7].
[7] Trích trong A,C,F. [6] “Chúng ta hãy xóa bỏ hàng rào quan thuế, và liên minh giữa mọi dân tộc nên chi sẽ được thiết lập, sự kết đoàn của họ được công nhận, và sự đồng đẳng được tuyên bố ra đời. [11] Sẽ là vô dụng và thậm chí là tự phá hủy mình khi giải thoát dân tộc nào đó trên trái đất khỏi sự ham quyền lực trong khi vẫn để ham muốn đó tiếp kiến tồn tại với những dân tộc khác.
Trong thời gian gần đây, niềm tin rằng sự giành giật quyền lực có thể bị xóa bỏ khỏi chính trường quốc tế đã được phối hợp với các rứa to lớn trong việc tổ chức lại thế giới, như là Hội Quốc Liên và Liên Hợp Quốc.
Đặc biệt, khao khát chiếm ưu thế vượt trội là yếu tố cấu thành của mọi sự liên kết giữa con người, từ gia đình ưng chuẩn những mối kết liên thân hữu anh em hoặc quan hệ nghề nghiệp, và từ những tổ chức chính trị địa phương cho tới cấp quốc gia. Đối với Mác và những người ủng hộ ông, chủ nghĩa tư bản chính là duyên cớ của chiến tranh và sự chia rẽ quốc tế.
Xem Speeches by Richard Cobden (London, The Macmillan Company,1870), I, 79: Political Writings (New York: D Appleton and Company, 1867), II, 110; Thư đề ngày 12/4/1842 gửi Henry Ashworth, được trích trong John Morley, Life of Richard Cobden (Boston: Roberts Brothers, 1881), p.
195 [8] New York Times, November 19, 1943, p,I. [8] Philip Noel-Baker, khi đó là Quốc vụ khanh Anh, vào năm 1946 đã tuyên bố trước Hạ viện rằng chính phủ Anh đã “quyết tâm dùng các thiết chế của Liên Hợp Quốc để xóa bỏ chính trị cường quyền, để duyệt y thiết chế dân chủ giúp cho ý chí người dân sẽ có vị trí thống lĩnh.
[9] House of Commons Debates (Fifth Series, 1946), Vol 419 p 1262.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét